Từ bão, triều cường đến nắng nóng và cháy rừng, TP.HCM sau hợp nhất, với cả dải bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu và Côn Đảo, phải đối mặt với nhiều loại thiên tai. Hồ sơ dự thảo Quy hoạch tổng thể TP.HCM lập bản đồ rủi ro cho từng loại và đề xuất bộ công cụ quản lý đến năm 2050.

Mười nhóm thiên tai và cấp độ rủi ro
Dự thảo tính rủi ro theo công thức R = f(H, V, E), tức rủi ro phụ thuộc vào hiểm họa (H), tính dễ bị tổn thương (V) và mức phơi lộ (E). Mười nhóm thiên tai được xét gồm bão và áp thấp nhiệt đới, nước dâng, sạt lở và sụt lún, nắng nóng, hạn hán, xâm nhập mặn, lốc – sét – mưa đá, mưa lớn, ngập lụt và nhóm còn lại như cháy rừng, gió mạnh trên biển.
| Loại hình | Khu vực rủi ro cao | Cấp độ tối đa |
|---|---|---|
| Bão mạnh, siêu bão | Ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, Côn Đảo, Cần Giờ | Cấp 4–5 |
| Cháy rừng tự nhiên | Rừng Cần Giờ, rừng phòng hộ Bà Rịa – Vũng Tàu cũ | Cấp 5 |
| Ngập lụt | Vùng trũng phía Nam TP.HCM cũ, ven sông Sài Gòn thuộc Bình Dương cũ | Cấp 3 |
| Nước dâng do bão | Bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, rừng ngập mặn Cần Giờ | Cấp 3 |
| Xâm nhập mặn | Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh | Cấp 2 |
Những điểm nóng hiện nay
Hồ sơ liệt kê 9 điểm nóng. Sáu điểm rủi ro rất cao gồm bờ sông Sài Gòn – Thanh Đa (sạt lở), vùng trũng Nhà Bè, rạch Lái Thiêu – Thuận An, bờ biển Cần Thạnh – Cần Giờ, mũi Nghinh Phong – Vũng Tàu và tuyến ven biển Lộc An – Hồ Tràm. Ngã tư Thủ Đức – Võ Nguyên Giáp và khu Đại lộ Bình Dương thuộc nhóm cao; hồ sông Ray (hạn hán) ở mức trung bình.
Riêng sạt lở, đến năm 2026, toàn thành phố có 43 vị trí nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm, đe dọa hơn 555 hộ dân tại 18 phường, xã.

Nắng nóng, xâm nhập mặn, nước biển dâng
Năm 2024, thành phố trải qua chuỗi 74 ngày nắng nóng, dài kỷ lục trong gần 30 năm; nhiệt độ cảm nhận ở lõi đô thị và Bình Dương cũ lên 41–42°C do hiệu ứng đảo nhiệt. Ranh mặn 4‰ lấn sâu khoảng 71–72 km, nhất là trên sông Soài Rạp. Nước dâng do bão từng đạt 1,2 m và tương lai có thể vượt 2,0 m.
Phần định hướng thoát nước dẫn kịch bản năm 2020, theo đó lượng mưa năm đến 2100 có thể tăng 14–24,2%; phần hiện trạng vẫn dùng kịch bản năm 2016 và số liệu bão 1961–2017.
Công cụ quản lý rủi ro đến 2050
Dự thảo đặt tầm nhìn hạ tầng thích ứng vận hành bằng trí tuệ nhân tạo, bảo vệ hơn 20 triệu dân vào năm 2050. Trung tâm là mô hình bản sao số (Digital Twin) toàn vùng, số hóa 3D cao độ nền từ Bình Dương cũ đến ven biển, nhằm dự báo sớm ngập, xả lũ, nước biển dâng trước 72 giờ.
- Lập vùng “không xây dựng kiên cố” ở vùng trũng ven sông rạch để trữ nước.
- Thống nhất vận hành liên hồ Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ để điều tiết lũ và chống mặn.
- Áp dụng “quy hoạch lùi tại khu vực rủi ro cao” trước nước biển dâng, dù chưa xác định khu vực cụ thể.
Bức tranh rủi ro trong dự thảo khá đầy đủ về loại hình và địa bàn; bước tiếp theo là cập nhật kịch bản khí hậu và xác định rõ các khu vực phải “lùi”.
Giá căn hộ tham khảo ở vùng ven biển và hạ lưu
Các công cụ trên hướng tới toàn thành phố. Giá căn hộ tham khảo ở ven biển Vũng Tàu và hạ lưu Nhà Bè khá chênh lệch: Vũng Tàu Center tại phường Vũng Tàu (Thắng Nhì, Vũng Tàu cũ) trung bình khoảng 41 triệu đồng/m² (41–47 triệu đồng/m²); Celesta Rise Keppel Land tại xã Nhà Bè (Phước Kiển, Nhà Bè cũ) khoảng 74 triệu đồng/m² (69–78 triệu đồng/m²). Phân vùng rủi ro trong dự thảo ở cấp khu vực, không đánh giá riêng từng dự án.
Nội dung bài viết dựa trên hồ sơ dự thảo Quy hoạch tổng thể TP.HCM thời kỳ 2021–2050, tầm nhìn 100 năm; các phân vùng và chỉ tiêu có thể thay đổi sau khi lấy ý kiến và thẩm định. Giá căn hộ trong bài là giá tham khảo tính đến 01/09/2026, chỉ minh họa mặt bằng giá khu vực, không phải khuyến nghị đầu tư.
Xem thêm dự án nổi bật: Happy One Elite · Celesta Gold · TT Genesis · Solina Vũng Tàu

